Mãn Đường Hoa Thải
Chương 560 : Bang giao
Người đăng: Nhân Sinh Như Mộng
Ngày đăng: 03:33 20-02-2026
.
Nước trà trong hắc trản hiện lên sắc thanh bạch, đây vốn là trà do Lục Vũ đích thân đun, Tiết Bạch nâng chén nhấp một ngụm.
Lý Quý Lan lén lút đưa mắt liếc nhìn, thâm tâm rất muốn nghe xem Tiết Bạch đánh giá thế nào về chén trà này, dẫu sao cũng là do tự tay nàng múc nước Trung Linh. Thế nhưng Tiết Bạch đặt chén trà xuống lại chẳng nói một lời, trong lòng nàng không khỏi lo âu, e rằng hắn phật ý rồi chăng.
Một lát sau, một tráp lá trà liền được dâng lên.
Tiết Bạch từ trước đến nay hay chế ra không ít vật lạ, hôm nay vốn là trà do đích thân hắn đem ra, mọi người không khỏi vạn phần kỳ vọng, cứ ngỡ hẳn là một loại trà bính mang hình dáng độc đáo.
Ngờ đâu lúc tráp gỗ bật mở, bên trong chỉ là những lá trà vụn vặt màu nâu sẫm, bộ dạng bề ngoài quả thực khiến người ta chẳng dám khen ngợi.
"Đều nhìn thử đi."
Tiết Bạch trước tiên đưa mắt nhìn Lục Vũ, ra hiệu cho y tiến lên phía trước.
Ban nãy Tiết Bạch tuy không nói lời nào, song đối với trà nghệ của Lục Vũ thực lòng vô cùng tán thưởng. Phương pháp đun trà chốn dân gian thời này nào có khác gì nấu súp thập cẩm, đem lá trà đun lẫn cùng hành, gừng, táo, vỏ quýt, thù du, bạc hà... Giới quyền quý dẫu cũng chuộng đun trà, nhưng hương vị phần nhiều lại đắng chát. Trình độ của Lục Vũ quả thực cao siêu hơn người thường rất nhiều, đã dậy được mùi trà hương.
"Điện hạ."
"Trà của ngươi vốn dĩ khác biệt với người ngoài, điểm khác biệt ấy nằm ở đâu?"
"Hồi bẩm Điện hạ, trà của học trò là được nướng qua." Lục Vũ cung kính đáp: "Khi nướng dùng lửa nhỏ sao chậm, thường xuyên lật giở để nhiệt độ tỏa đều đặn, nướng tới lúc bánh trà hiện lên bề mặt tựa lưng thiềm thừ liền nhân lúc còn nóng bọc kỹ lại, tránh để hương khí tản mất."
"Ngươi xem thử số trà ta mang tới này xem?"
Lục Vũ nhón lấy chút lá trà kia lên ngửi thử, đáp: "Tuyệt nhiên không phải là nướng chế."
Y lộ vẻ suy tư, ngẫm nghĩ một chốc lâu, rốt cuộc mới cất lời: "Trà này của Điện hạ, chẳng lẽ là... được sao qua rồi ư?"
"Không sai."
Tiết Bạch xưa nay vốn không mấy quen thưởng thức nước trà của Đại Đường, cũng từng thử pha vài bận, nhưng muốn nhâm nhi một chén thanh trà dường như chẳng phải cứ lấy nước sôi hãm qua là xong việc.
Dạo trước hắn chẳng mảy may có tâm trí nghiên cứu những thứ này, nay được thảnh thơi, ngẫm lại nguyên lai là cần phải qua công đoạn sao chế mới pha được vị ngon, liền sai người hái lá trà tốt về dăm phen thử nghiệm, rồi dần dà tường tận từng bước sao chế cụ thể, bao gồm cả độ nóng của vạc lửa ra sao, cần mấy bận công đoạn.
Lục Vũ mân mê lá trà kia, lẩm bẩm: "Sao chưa đủ khô, e rằng khó mà nghiền thành bột mịn."
"Đây là để hãm nước sôi."
Tiết Bạch liền đứng dậy, đích thân đi hãm ấm trà này.
Lục Vũ cảm nhận được khí thế của hắn, cứ ngỡ hắn rành rọt đạo pha trà lắm, bất giác trố mắt trân trân dõi theo, lại còn cởi luôn dải lụa quấn tay của mình ra định đưa tới, thầm lo vạt áo của Tiết Bạch sẽ quệt ngã mớ trà cụ lỉnh kỉnh kia.
Chỉ thấy Tiết Bạch một tay nhấc chiếc mộc tráp lên, thong dong bước tới trước kỷ án, ung dung nhón lấy một vốc lá trà, rắc thẳng vào trong ấm.
Gọi là ấm, nhưng kỳ thực tên gọi là "thục vu" (bình trà nhỏ), vốn là một trong hai mươi bốn trà cụ của Lục Vũ, dùng để đựng nước sôi.
Lục Vũ không khỏi kinh ngạc, càng thêm khó hiểu trước động tác dùng tay bốc trà của Tiết Bạch, bụng bảo dạ: "Lẽ nào là để mượn chút vị mặn cho trà chăng? Thế thì còn bỏ muối làm gì nữa? Cho lá trà vào thục vu rồi, lát nữa nước sôi lại biết chứa vào đâu?"
Biết bao câu hỏi lướt qua trong tâm trí, Lục Vũ lại càng thêm chú tâm quan sát từng cử chỉ của Tiết Bạch, để xem hắn tiếp đến sẽ dùng tới món trà cụ nào.
Tiết Bạch nhìn quanh quất bốn bề, từ trong mớ trà cụ rườm rà nhặt lên một tấm trà cân, quấn quanh quai xách của chiếc ấm đun nước, liền đem nước sôi trút thẳng vào thục vu.
(*trà cân: là một miếng vải nhỏ (thường bằng bông hoặc sợi lanh) dùng để lau khô đáy chén trà sau khi tráng, lau các giọt nước thừa trên bàn trà hoặc vệ sinh trà cụ để giữ cho không gian thưởng trà luôn khô ráo, thanh tịnh.)
"Xong rồi."
"Sao cơ?"
Tiết Bạch xoay người lại, nói: "Trà pha xong rồi."
Đám đông khẽ sững sờ, Lý Thừa Hoành bừng tỉnh rất nhanh, tán thưởng: "Điện hạ pha trà, tựa như mây trôi nước chảy, vui nhãn vui tâm, diệu, thực diệu thay!"
Ánh mắt Lý Tề Vật liếc về phía Lý Thừa Hoành bất giác mang chút oán thầm, bụng bảo dạ kẻ này nịnh hót vuốt ve tài tình đến thế, thảo nào lại nhận được trọng trách.
Lục Vũ thì lại cảm nhận được sự chà đạp của Tiết Bạch đối với trà đạo, đầy vẻ hụt hẫng bước lên trước, dán mắt vào phần nước trà bên trong thục vu.
Những phiến lá trà bị sao tới cuộn tròn nay bung nở thư thái, chìm dần xuống đáy, nước trà ngả màu lục bích, quả thực là chẳng đẹp mắt chút nào.
"Rót cho mọi người cùng nếm thử đi." Tiết Bạch lên tiếng.
Lục Vũ toan cất lời chối từ, bỗng hít mũi một cái, thoắt ngửi thấy mùi hương trà thanh khiết.
Ánh mắt y ngưng đọng, dùng chiếc gáo nhỏ múc nước trà rót vào trong trản, hai tay dâng lên nhắm nghiền mắt lại hít ngửi, đoạn trút ra một hơi thở dài, đem bao tạp niệm trong lòng rũ bỏ sạch trơn, tĩnh tâm nhấp nhẹ một hớp.
"Thế nào?"
Lục Vũ mở bừng hai mắt, tuyệt nhiên không vội hồi đáp, mà lẳng lặng cảm nhận vị ngọt hậu của nước trà. Dần dà, trong đáy mắt y lóe lên một thứ ánh sáng khác lạ, cuồng hỷ thốt lên: "Lại có thể thanh hương sảng khoái đến nhường này!"
Tiết Bạch chẳng lấy gì làm lạ, điềm nhiên bảo: "Thế là cũng tàm tạm rồi đấy."
Đợi nước trà được chia cho đám đông cùng thưởng thức, ai nấy đều không khỏi trầm trồ trước cái lối pha chế giản đơn đến thế mà lại chiết xuất được hương vị diệu kỳ ngần này.
Lục Vũ, Kiểu Nhiên, hai người trẻ tuổi vô cùng xuất chúng này vậy mà lại bị Tiết Bạch mượn đạo giản đơn áp đảo toàn bộ nhuệ khí, lại còn ngay trên chính lĩnh vực mà bọn y am tường nhất.
Việc này dường như lại dấy thêm bao nỗi muộn phiền cho Lý Quý Lan.
Nàng vừa đem lòng sùng bái hắn cái gì cũng tinh thông, dở tay nhấc chân liền đủ sức kinh diễm đương thế, ngặt nỗi lại chẳng thể đoan chắc liệu cơ sự hắn làm hôm nay có phải là đang tranh phong ngật thố vì mình hay không, tâm can cứ đinh ninh suy đoán mãi.
Bên kia, Tiết Bạch đã vẫy Lý Thừa Hoành tới, cất lời hỏi: "Trà này thế nào?"
"Nếu đã như vậy, đợi lúc sứ tiết Thổ Phồn tới, liền dùng thứ này khoản đãi bọn họ đi."
"Vâng."
Dứt lời, Tiết Bạch đưa mắt nhìn sang Lý Hiện, hai người nhìn nhau mỉm cười, khẽ gật đầu.
Bên trong những phiến lá trà nhỏ bé này, kỳ thực giấu kín mưu đồ to lớn của Tiết Bạch.
~~
Mấy ngày sau, nơi góc Tây Nam Hoàng thành, Hồng Lư khách quán.
Lục Vũ đoan tọa sau kỷ án, mượn tư thái phiêu dật của y tỉ mỉ đun trà, hai tay dâng lên cho sứ giả Thổ Phồn.
Chính sứ Thổ Phồn mang tên Ba Tái Nang, thân hình cao lớn lực lưỡng, vóc dáng vạm vỡ thô kệch, sắc mặt ngăm đen, hàm râu quai nón rậm rạp che kín cả khuôn mặt.
Cử chỉ của gã lại hết sức văn nhã, lại còn rành rọt cả Hán ngữ, dùng hai tay từ tay Lục Vũ tiếp lấy trà trản (chun trà). Nhấp thử một ngụm, miệng gã trút ra một tiếng cảm thán đầy vẻ khoan khoái.
"Lá trà quả thực là một món đồ tốt, bọn ta quanh năm chuộng ăn thịt, dùng lắm sinh ngấy, thứ nước trà này thực sự giải ngấy vô cùng tuyệt diệu."
Đường đình Sứ giả Lý Thừa Hoành quý vi Quận vương, nghe vậy chỉ nhạt nhòa mỉm cười, khẽ gật đầu tỏ ý tán thưởng, dáng vẻ vô cùng dè dặt.
Lục Vũ lại vì Ba Tái Nang rót thêm một chén, cất lời: "Sứ tiết nếu đã ưng ý, bận này tới có thể mang thêm một ít về."
"Được thôi." Ba Tái Nang cười nói, chỉ tay xuống bàn, cất giọng: "Chỉ ngặt nỗi những món đồ vật này quá mức rườm rà, quay về Thổ Phồn rồi, e rằng ta đun chẳng nổi thứ trà tuyệt diệu dường này đâu."
"Chỗ ta vẫn còn chút lá trà dùng để hãm nước sôi, sứ giả cũng có thể nếm thử xem sao."
Lục Vũ vừa dứt lời, liền xoay người bưng ra một chiếc tráp, tiến hành hãm trà.
Y dẫu tướng mạo xấu xí, nhưng động tác lại phiêu dật hơn Tiết Bạch rất nhiều, cái vẻ nhã nhặn trong từng cái dở tay nhấc chân luôn khiến người ta lầm tưởng y là một mỹ nam tử.
Chẳng bao lâu, trà liền pha xong. Chuyến này còn đem chia cho tất thảy binh sĩ và nô bộc Thổ Phồn theo hầu sứ tiết mỗi người một chén nếm thử.
Làm như thế, vốn dĩ vì Tiết Bạch đối với hai loại trà có định vị hoàn toàn khác biệt. Đun trà thì công đoạn rườm rà, trông có vẻ phẩm cách cao sang, chủ yếu nhắm vào giới quý tộc; hãm trà thì lưu trình giản đơn, chủ yếu nhắm vào bách tính bình dân.
Người Thổ Phồn tuy sớm mượn nước trà giải ngấy, nhưng tuyệt nhiên không thể ai nấy đều được thưởng thức thứ nước trà đun chế này, ví phỏng cái hương vị hãm nước sôi này khiến bọn họ vừa ý, coi như thứ thức uống thường nhật, quy mô mậu dịch lá trà tất nhiên sẽ tăng vọt.
Quả nhiên, một chén trà này trôi xuống bụng, tuyệt nhiên chẳng có ai thấy mùi vị đắng chát, mà chỉ cảm giác thân tâm vô cùng khoan khái thư sảng.
Ba Tái Nang cũng rất chuộng thứ nước trà thanh hương này, bèn thỉnh cầu được mua thêm một ít chuyến này mang về Thổ Phồn.
Còn như chuyện hai nước triển khai giao thương lá trà số lượng lớn, đó lại là sự tình đợi nghị hòa xong xuôi mới lại bàn tới.
Lý Thừa Hoành giữ Lục Vũ theo bên mình khoản đãi sứ giả Thổ Phồn, cốt lõi chính là nằm ở chỗ này. Bọn họ phụng mệnh lệnh của Thái tử, phải mượn lấy thời cơ này khơi gợi thêm nhu cầu của Thổ Phồn đối với lá trà.
Thưởng trà xong, Ba Tái Nang liền nung nấu lái câu chuyện sang việc cầu cưới công chúa Đại Đường. Lý Thừa Hoành lảng sang chuyện khác, thoắt cái, một người phía sau liền cất lời, chính là Kiểu Nhiên.
Kiểu Nhiên diện mạo tuấn tú, đàm thổ bất phàm, chẳng mấy chốc cùng Ba Tái Nang chuyện trò hết sức tâm đầu ý hợp, đồng thời uốn dòng câu chuyện xoay quanh cõi Phật pháp.
Văn giáo của Thổ Phồn vốn chẳng hề hưng thịnh, đúng ra phải nói là vô cùng bần cùng. Ở Thổ Phồn, kẻ biết chữ cực kỳ ít ỏi, huống hồ gì là tri thức về y dược, thiên văn, địa lý, toán thuật...
Vô tri liền nảy sinh kính sợ, đó là nỗi kính sợ đối với thiên địa tự nhiên, đối với quỷ thần. Ba Tái Nang dẫu thân là quý tộc Thổ Phồn, thâm tâm cũng ôm lòng sùng kính sâu sắc đối với Phật giáo. Mặt khác, gã thừa hiểu, Thổ Phồn nếu như muốn chấn hưng văn giáo, tuyệt nhiên không thể trông cậy vào giới độc thư nhân, họa chăng chỉ có những tăng lữ hành thiện tích đức mới có thể mang văn giáo gieo rắc trên đất Thổ Phồn, chữa trị tật bệnh, phiên dịch thư tịch, cứu tế bách tính.
Một mặt khác, bấy lâu nay, quyền lực của đám vu sư Bon giáo ngày một bành trướng, từng bước tước đoạt quyền uy của Tán Phổ. Từ chuyện ma chay cưới hỏi, nông canh chăn thả, cho đến giao binh hội minh, Tán Phổ kế vị chủ chính, cho tới an táng xây lăng đều vươn tay can thiệp. Bởi vậy nên, từ thời Tùng Tán Cán Bố, Phật giáo sớm được vương thất Thổ Phồn ra sức bồi dưỡng.
Nay, Tán Phổ của Thổ Phồn là Xích Tùng Đức Tán dẫu bước sang tuổi mười sáu, ngặt nỗi triều chính lại bị quyền thần lũng đoạn, mà kẻ quyền thần này một lòng tín phụng Bon giáo. Dẫn dắt Phật giáo vào đối kháng với quyền thần, chính là lập trường hiển nhiên của Xích Tùng Đức Tán.
Ba Tái Nang vốn là tâm phúc của Xích Tùng Đức Tán, bận này phụng mệnh đi sứ Đại Đường, một trong những mục đích chính là thông qua việc liên hôn, tranh thủ sự ủng hộ của Đại Đường, nhằm củng cố uy vọng của Xích Tùng Đức Tán.
Gã đương nhiên chẳng chút nào bài xích cùng Kiểu Nhiên đàm luận Phật pháp, ngược lại càng hàn huyên càng thâm sâu, đối với biết bao nỗi hoài nghi về thiên địa, nhân sinh đều cảm thấy như thể đề hồ quán đỉnh, mây mù tan biến.
Hai người còn ước hẹn ngày mai cùng nhau tản bộ tới Xương Hưng tự, bái kiến vị thiền sư uyên thâm Phật pháp bậc nhất Đại Đường đương thời là Tuệ Chứng thiền sư.
~~
Tuệ Chứng thiền sư năm nay đã thọ bảy mươi sáu tuổi.
Ông từ thuở thiếu thời đắm mình vào biển Phật pháp, am tường kinh luật, vinh dự là một trong những cao đồ dưới trướng Huệ Năng, lại còn đạt được tâm ấn. Trải qua hơn bốn mươi năm tu luyện, thanh danh càng lúc càng rực rỡ.
Nghe đồn từng có phường đạo tặc đột nhập vào trong tự miếu, kề đao lên cổ Tuệ Chứng để uy hiếp ông. Tuệ Chứng đả tọa bất động, miệng lẩm nhẩm tụng kinh, đến cuối cùng, tên đạo tặc khóc lóc thảm thiết, quỳ rạp xuống đất sám hối tội nghiệt bình sinh.
Thời Lý Long Cơ tại vị, từng nghe qua danh tiếng của ông, bèn rước ông vào Trường An.
Ngày hôm ấy, đối diện lão hòa thượng ngồi chễm chệ hai người, một vị là cư sĩ, y phục thanh tao, thần thái tinh anh thanh thoát, đang bế mục minh tư, chính là Vương Duy.
Người còn lại thì là một thiếu niên, ngồi thế nào cũng chẳng yên, chốc thì khoanh chân, chốc lại duỗi cẳng thẳng băng, chính là Đỗ Ngũ Lang.
"Ma Cật cư sĩ cũng đã thỉnh Ngọc Chân công chúa hỏi qua rồi, Điện hạ nào có tâm địa xấu xa gì đâu? Chẳng qua chỉ là tra xét ruộng đất và nhân khẩu của các tự miếu trong thiên hạ mà thôi, vậy mà có kẻ dám đơm đặt tin đồn hắn muốn diệt Phật, quả thực là lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử."
Đỗ Ngũ Lang dẫu thốt ra những lời dường ấy, song vẫn ngẩng đầu lướt nhìn những mái điện ngọc ngà của ngôi chùa này, chép miệng tán thưởng, lại tiếp lời: "Nhưng mà nói đi cũng phải nói lại, ruộng đất, điền hộ, nô tỳ của tự miếu các người thực sự quá nhiều rồi đó, à, việc cho vay lấy lãi từ nay về sau tuyệt nhiên không được làm nữa đâu."
Tuệ Chứng vô hỉ vô bi, cất giọng đều đều: "Nhược tao chúng ách, chủng chủng suy não, bất cát chi sự. Nhiễu loạn ưu bố, bất xưng ý thời. Ưng đương cam thụ, vô lệnh nghi hối, thối tu thiện nghiệp."
("Khi bạn đối mặt với nghịch cảnh, những nỗi đau khổ và những điều không may mắn. Khi tâm trí bị bủa vây bởi sợ hãi và mọi chuyện diễn ra không theo ý mình. Lúc đó, hãy bình thản chấp nhận, đừng để sự hoài nghi hay hối hận làm bạn nản lòng mà từ bỏ việc sống tốt, làm điều thiện.")
"Pháp sư giảng cho ta mấy thứ này, ta cũng nghe không hiểu." Đỗ Ngũ Lang đáp: "Điện hạ sai ta đến đây, là trông mong pháp sư hướng về phía sứ giả Thổ Phồn mà hoằng dương Phật pháp."
Liên hệ với những lời hắn bạo dạn tuyên bố ban nãy, đây đại khái mang ý tứ muốn Tuệ Chứng lập công chuộc tội.
Tuệ Chứng đương nhiên làm sao có thể cự tuyệt, tự miếu của ông ta nay lọt vào tầm ngắm, dẫu không vì bản thân lo tính, thì cũng phải vì đám đồ tử đồ tôn mà lo liệu bề sâu.
Đỗ Ngũ Lang thấy ông ta lĩnh hội, khẽ gật gù, bắt đầu liến thoắng dặn dò không dứt.
"Người Thổ Phồn tín phụng Phật tuyệt nhiên không giống với cách chúng ta tin, chúng ta có Đạo, có Nho, chính là cái gọi 'Người đọc sách không nói chuyện yêu ma quỷ quái', pháp sư ngày trước kể toàn những chuyện đại loại như cảm hóa cường đạo, thế là chưa đủ đâu, Thổ Phồn chuộng thứ Phật lợi hại hơn cơ..."
"A Di Đà Phật, bần tăng xưa nay vốn chẳng hề vọng ngữ."
Đỗ Ngũ Lang hắng giọng: "Ta đây cóc cần biết, pháp sư phải làm sao cho sứ giả Thổ Phồn tâm phục khẩu phục mới xong."
Tuệ Chứng bình nhật cùng Vương Duy luận bàn đạo Phật, thảy đều ngôn giản ý cai, ý vị thâm trường, giữa những màn đối đáp tựa như hai vách thanh sơn đối diện ngắm nhau, người sáng tự tỏ tường, kẻ mù thì mãi tối tăm.
Ngặt nỗi ngày hôm nay gánh lấy trọng trách Đỗ Ngũ Lang giao phó, trong lòng ông ta không khỏi buông thõng một tiếng thở dài.
Kỳ thực ông ta vốn thấu hiểu đương triều Thái tử rốt cục ôm mưu đồ gì, nhưng ngặt nỗi ông ta xuất thân từ Thiền tông, mà thứ người Thổ Phồn khao khát, thứ họ thành tâm tín ngưỡng, lại là giáo pháp của Mật tông.
Hai phái này xét cho cùng vốn vô cùng khác biệt.
"Đành miễn cưỡng thử một phen vậy." Tuệ Chứng lẩm bẩm.
Hôm sau.
Kiểu Nhiên dẫn theo Ba Tái Nang chầm chậm cất bước vào bảo điện, dọc đường đi, hạ giọng kể lại những sự tích của Tuệ Chứng thiền sư.
"Trên chặng đường Thiền sư vào kinh, từng trạm trán một con hỏa long miệng phun độc diễm, ngài ấy thong dong tụng kinh, hỏa long liền thu nhỏ thành một con thạch sùng, ngoan ngoãn quy y cửa Phật."
"Lợi hại đến mức ấy ư?!"
Ba Tái Nang mừng rỡ kinh ngạc.
Điều vô cùng khác biệt so với lúc truyền giáo nơi Đại Đường chính là, ở chốn Thổ Phồn muốn lan tỏa đức tin, bắt buộc phải thi triển pháp thuật và thần thông siêu việt hơn đám vu sư Bon giáo một bậc, rồi sau đó mới rờ tới cõi Phật pháp cao thâm.
"Ta đặt chân tới đất Đại Đường, khắp mình mẩy ngứa ngáy ghê gớm, liệu có thể thỉnh cầu Thiền sư xem giúp cơ sự là do đâu chăng?"
"Xin mời."
Ba Tái Nang rốt cuộc tiến vào bảo điện, dán mắt trông thấy dáng vẻ bảo tướng trang nghiêm của Tuệ Chứng. Ngôn từ chưa kịp thốt ra khỏi miệng, Tuệ Chứng bỗng choàng mở trừng hai mắt, tựa kim cang nộ mục.
"Hay cho một tên ác sát, lại cả gan mượn xác nhập hồn ư?!"
Sau một tiếng trách mắng, Tuệ Chứng thình lình đứng phắt dậy, không hoang mang chẳng vội vã vừa lẩm nhẩm chú ngữ vừa đi vòng quanh Ba Tái Nang vài lượt, rồi thuận tay nhấc bổng một nhành liễu, dấp nước vào bình sứ nhỏ, vẩy thẳng lên người Ba Tái Nang.
Kế đó lại tiếp tục niệm kinh, một hồi lâu sau, Tuệ Chứng mới cất tiếng: "Ác quỷ nay quy y rồi."
Ông ta lại đả tọa trên bồ đoàn như cũ, toát ra vẻ uyên thâm mờ mịt, chẳng thể lường được.
Ba Tái Nang bỗng cảm thấy toàn thân dường như chẳng còn ngứa ngáy nhường ấy nữa, lúc này mới vỡ lẽ nguyên lai trên đường đi sứ vô tình vướng phải tà ma, may nhờ Tuệ Chứng đại sư giáng phục, trong lòng bất giác dâng lên niềm sùng bái tột độ, ngay tại trận muốn lạy lục bái nhập dưới trướng Tuệ Chứng, khẩn khoản được nhận làm đồ đệ.
Tuệ Chứng từ từ hé mắt, song trong khóe mắt lại chứa chan nỗi xót thương bi mẫn.
Ông ta thừa hiểu, chặng đường tiếp nối hẳn là một khởi đầu chan chứa gian truân, từ đây về sau chẳng còn cảnh nhàn đàm ảo mộng thiên địa cùng những bậc am tường Phật lý như Vương Duy nữa, mà thay vào đó phải vận đủ các môn pháp thuật hòng phá tan nỗi khiếp sợ của thế nhân trước cõi vô tri tăm tối, từ ấy mới đắp nặn nổi nền tảng đức tin cho họ.
Phen này, ông ta sẽ thay mặt Thiền tông xông pha tranh giành sức ảnh hưởng trên đất Thổ Phồn với muôn vàn giáo phái khác.
~~
Vụ Bản phường, Nhan trạch.
Đây vốn là tòa tân trạch mà Nhan Chân Khanh dọn tới sau khi bái tướng, diện tích tuy chẳng hề rộng rãi, nhưng được cái địa thế nằm sát vách Hoàng thành và Đại Minh cung.
Chập tối bỗng vang lên ba tiếng gõ cửa "cốc cốc cốc" trầm đục, người gác cổng mở toang cánh cửa, lại trông thấy một nữ tử ngoại tộc vận bộ lan bào sừng sững đứng đấy.
"Nhan sư có ở phủ không? Cố nhân xin được diện kiến."
Nữ tử này mang khẩu âm Thổ Phồn đặc sệt, nhưng Hán ngữ thốt ra nghe vẫn khá chững chạc.
Nhanh chóng, nàng liền được mời thẳng vào tiền viện, tĩnh tọa chốc lát, Nhan Chân Khanh liền tới.
"Nhan sư."
"Na Lan Trinh?" Nhan Chân Khanh thoáng vẻ kinh ngạc, hỏi: "Cớ sao ngươi lại ở nơi này?"
Na Lan Trinh liền đứng lên chắp tay hành lễ, cất lời: "Ta mang theo tấm lòng chân thành tới đây hội minh."
Nhan Chân Khanh vuốt râu điềm đạm đáp: "Lẽ nào tên sứ giả kia không phải tới đây để hội minh sao?"
"Thân phận của Ba Tái Nang, khiến hắn tuyệt nhiên chẳng có đủ tư cách thương định những quyết sách thực sự hệ trọng với Đại Đường." Na Lan Trinh nói: "Nhưng ta thì có thể."
"Ngồi xuống rồi nói tiếp đi."
So sánh ra, Na Lan Trinh ruột gan nóng như lửa đốt, gấp gáp hơn Nhan Chân Khanh rất nhiều.
Nàng từng giao phong cùng Tiết Bạch, sau khi bị bắt làm tù binh thậm chí còn phải bái Tiết Bạch làm sư, bởi vậy nên nàng thấu tận tâm can kẻ làm thầy mình đáng sợ nhường nào. Một nhân vật nhường ấy hiện chèo lái cơ đồ Đại Đường, quật khởi không chỉ là lẽ tất nhiên, mà còn thần tốc.
Trái lại, nhìn về Thổ Phồn, cục diện nay dẫu bề ngoài xem ra hùng mạnh hơn Đại Đường, ngặt nỗi đệ đệ nàng tuổi tác hãy còn thơ ấu, bị quyền thần kẹp chặt khống chế. Cuộc chiến xâm Đường nếu đánh thắng, công lao tuyệt chẳng rớt xuống đầu vương thất, ngày sau gánh chịu đòn thù gầm rít của Đại Đường, ác quả lại toàn do vương thất nai lưng gánh chịu; mà giả như đánh thua, thứ vỡ vụn tổn hại lại vẫn cứ là uy vọng của vương thất, bề nào cũng đều là vụ đong đếm thâm hụt.
"Đạt Trát Lộ Cung thực chẳng muốn nghị hòa, gã rắp tâm làm tê liệt Đại Đường, mượn ly gián kế diệt trừ các tướng lãnh Đại Đường, song Tán Phổ lại một dạ muốn nghị hòa, thành thử mới phái Ba Tái Nang tới đây. Đạt Trát Lộ Cung vốn chẳng coi Ba Tái Nang ra gì, tuyệt nhiên không tin hắn đủ sức xúc tiến thỏa hiệp nghị hòa giữa Thổ Phồn và Đại Đường. Cho nên, ta mới đích thân đến, ta có toàn quyền thay mặt Tán Phổ định đoạt điều kiện với Đại Đường."
Đón nhận một tin tức trọng yếu như vậy, Nhan Chân Khanh lại chẳng có phản ứng gì quá lớn, chỉ ung dung lên tiếng: "Dựa vào đâu để ta tin vào thành ý của ngươi?"
"Chúng ta định giết chết Chủ chính đại thần Mã Tường."
Na Lan Trinh không mảy may trì nghi, thẳng thừng lật bài ngửa phơi bày sạch sành sanh kế hoạch của hai tỷ đệ.
"Giết xong Mã Tường, Tán Phổ lập tức có thể buông rèm nhiếp chính. Khổ nỗi Đạt Trát Lộ Cung hiện lãnh binh dạo chơi bên ngoài, chúng ta lo canh cánh chuyện hắn sẽ tạo phản, thành thử cực kỳ khát cầu Đại Đường dang tay trợ lực. Để đổi lại, chúng ta đồng thuận dâng trả toàn bộ những tòa thành trì chiếm cứ suốt hai năm ròng. Mặt khác, Tán Phổ nhất định phải rước một vị công chúa Đại Đường, hai nước kết nghĩa chi giao, dứt tiệt binh đao."
Nhan Chân Khanh khẽ lắc đầu, quả quyết: "Hòa thân e là không xuôi, triều đình sẽ không đáp ứng."
Na Lan Trinh tiếp lời: "Nếu Đại Đường không cam tâm hòa thân, Tán Phổ ắt phải rước lấy nhi nữ nhà Thái Bang thị về làm vương phi. Thế lực của Thái Bang thị xưa nay quyền khuynh triều dã, đến chừng ấy, vương thất Thổ Phồn ắt sẽ tuyệt nhiên chẳng còn phe phái nào thân cận Đại Đường nữa."
Vài ba mớ tính toán vặt vãnh trong lòng nàng sao qua mặt nổi con mắt tinh đời của Nhan Chân Khanh.
Hiển nhiên, người sục sôi mong ngóng màn rước dâu công chúa Đại Đường tuyệt nhiên không phải vị Tán Phổ Thổ Phồn Xích Tùng Đức Tán kia, mà chính là nàng Na Lan Trinh. Nàng không muốn viễn cảnh thế lực ngoại thích Thổ Phồn vươn vây bành trướng, khao khát mượn dao giết người, kéo thế lực khác vào hòng khuấy đục bầu nước. Có thế, nàng ta – thân là Trưởng công chúa – mới nhởn nhơ mượn uy danh Tán Phổ nhiếp chính mà đường hoàng thâu tóm quyền bính.
Nhan Chân Khanh bề nào cũng am tường nghệ thuật đàm phán hơn xa Na Lan Trinh, y khí định thần nhàn, đâu có vội vàng tung lời hồi đáp.
Y lẳng lặng quan sát nàng, phát giác trong túi nước của nàng kỳ thực toàn là nước trà. Căn nguyên khiến y nhìn thấu tỏ, âu là bởi khoảnh khắc nhấp miệng có vương vài mảnh vụn lá trà, nàng ta khẽ khàng nhai nuốt chút xíu.
"Thế nào?"
Một lúc sau, Na Lan Trinh cuống cuồng truy vấn.
Nhan Chân Khanh đanh giọng vặn hỏi: "Tán Phổ Thổ Phồn liệu có nắm trong tay quyền lực hạ lệnh đình chiến, lại còn oai phong tới mức ra lệnh cho Đạt Trát Lộ Cung nhè ra những thành trì chiếm đóng sao?"
"Hội minh là do chính miệng Đạt Trát Lộ Cung khơi mào, hắn vạn vạn chẳng thể ngờ chúng ta lại thực sự chạm tay vào thỏa ước, đến độ ấy hễ Tán Phổ buông lời hạ chỉ, hắn tất trở tay không kịp, đành ngoan ngoãn vâng theo."
Hai người còn dây dưa dăm ba câu, Nhan Chân Khanh buông lời từ chối khéo, bảo rằng bản thân vốn chẳng làm chủ được đại sự cỡ này, phải thỉnh báo lại triều đình rồi hẵng bàn tiếp.
Tiễn bước Na Lan Trinh xong xuôi, y liền ngay trong đêm vội vã hồi cung cầu kiến.
~~
Thiếu Dương viện, Tiết Bạch nghe tin Nhan Chân Khanh cầu kiến, trong lòng liền hiểu ắt có đại sự, lập tức hạ lệnh người mở cung môn.
Thủ tục mở cung môn cực kỳ nhiễu nhương, đợi đến lúc Nhan Chân Khanh đặt gót vào tới trong cung, đêm đã trôi về cõi khuya khoắt.
Sau khi thuật lại gọn lỏn chuyện Na Lan Trinh rắp tâm trà trộn trong nội bộ sứ đoàn cùng với những đề nghị của nàng, Nhan Chân Khanh liền nương theo đó dâng lên kiến giải của mình.
"Ta cho rằng kế này có thể thi hành."
Tiết Bạch khẽ lắc đầu, đáp lời: "Tuyệt nhiên không được."
Hắn chắp tay sau lưng cất bước lượn quanh, tiến tới trước bức địa đồ, ung dung nói: "Thổ Phồn vốn là cừu địch hùng mạnh nhất luôn rình rập quanh bờ cõi Đại Đường. Đại Đường may ra có thể giao hảo vô tư cùng những bộ lạc, tiểu bang xung quanh, song va chạm đao thương với bọn họ ắt là chuyện khó tránh khỏi. Người Phiên thay lòng đổi dạ như trở bàn tay, lúc đánh lúc hòa, dẫu lật tung cả cõi đất này cũng chẳng thấy nửa chữ tín. Nếu gật đầu chuyện hòa thân, chẳng những rũ sạch uy vọng của triều đình, mà còn cực dễ rớt vào hố sâu thụ động."
Nhan Chân Khanh vừa thoảng nghe liền ngộ ra đạo lý. Hắn rõ ràng đang ám chỉ giống nòi Thổ Phồn rặt ròi chuộng cái thói lươn lẹo trá hàng, chuyện thường ngày ở huyện chính là nay vừa trải đệm hòa đàm, sớm tinh mơ ngày mai cất bước xâm lăng. Mà chuyến này, Tiết Bạch cũng rắp tâm mượn kế hư tình giả ý.
"Xích Tùng Đức Tán tuổi tác tuy vẫn còn nhỏ, song tầng tầng lớp lớp thủ đoạn dường này lại chẳng thể khinh suất coi thường. Chuyện chúng ta tương trợ hắn nhổ tận gốc quyền thần, rốt cục thì có đẻ ra mối hời nào? Đáng lẽ điều chúng ta nên làm phải hoàn toàn đi ngược lại mới phải đạo, lấy màn hòa đàm hòng gây mê hắn, tung đòn ly gián khoét sâu xích mích giữa hắn và Đạt Trát Lộ Cung, để cho nội bộ Thổ Phồn lao vào cắn xé lẫn nhau."
Đây chính là lấy đạo của người trả lại cho người, Đạt Trát Lộ Cung xướng ngôn hòa đàm, thực chất là rắp tâm khiến Đại Đường buông lơi cảnh giác, từ đó châm ngòi nội loạn.
"Tuy không thể hòa thân, song vẫn có thể khoác áo hòa đàm. Để bày tỏ thành ý, chúng ta có thể kết mậu dịch cùng Thổ Phồn, đem tơ lụa, lá trà, sư tăng chắp cánh đi buôn, đám người Phiên cứ việc lấy trâu bò chiến mã sang giao hoán..."
Thiết tưởng vô cùng giản đơn.
Lấy con đường thông thương làm viên gạch đầu tiên phô bày thành ý của Đại Đường, còn có thể phái lượng lớn tăng lữ chìa vai gánh vác việc chấn hưng Phật pháp cùng Xích Tùng Đức Tán, bồi đắp binh lực cho phe cánh những vị đại thần tín phụng Phật pháp, thậm chí buông lời hứa hão giam chân Đạt Trát Lộ Cung nơi biên ải, trao vào tay Xích Tùng Đức Tán khối niềm tin mãnh liệt để diệt trừ tên Nhiếp chính đại thần.
Nhưng mà, hễ Xích Tùng Đức Tán nhón tay tàn sát, Đại Đường lập tức lật bàn xúi bẩy, thậm chí giang tay bao bọc nâng đỡ Đạt Trát Lộ Cung cất binh, châm ngòi nổ thổi bùng cơn bạo loạn nội đấu Thổ Phồn.
Còn như làm thế nào ngấm ngầm len lỏi vào huyết mạch Thổ Phồn, Tiết Bạch sớm dụng tâm chuẩn bị hai thứ cờ thế then chốt, thứ nhất là trà, thứ hai là Phật pháp.
Các sứ giả và mật thám Đại Đường trà trộn vào những đoàn buôn, ôm theo đống lá trà vỗ tan cơn ngấy, lôi kéo theo những vị tăng lữ địa vị bất phàm, rồng rắn xâm nhập Thổ Phồn, Hà Tây, Tây Vực, chắp nối liên lạc dân di cư, nín thở chờ thời lúc Thổ Phồn rơi vào vòng nội loạn liền vùng dậy thu hồi cõi bờ để mất.
Hắn tuyệt không đời nào đem chút ánh hy vọng gửi gắm vào lòng tự nguyện trả lại đất đai của Đạt Trát Lộ Cung.
Dẫu cho thành trì có hoàn trả, thì nhân khẩu, trâu bò, tài sản lại sẽ một đi không trở lại.
Hai nước bang giao, đem lợi ích treo lên cao nhất. Còn như chút xíu ân tình cỏn con cùng Na Lan Trinh kia, hiển nhiên đâu đáng mặt một đồng, lừa nàng một vố thì có bề gì tổn hại?
~~
Vài hôm sau, Ba Tái Nang bấy giờ ôm trọn pháp danh "Hỉ Liên", bệ vệ dẫn đầu sứ đoàn giẫm lên con đường hướng thẳng về chốn Thổ Phồn.
Vô cùng đáng tiếc, gã chẳng tài nào cầu cưới được vị công chúa Đại Đường về làm nàng dâu cho Tán Phổ, căn cớ này khiến gã ngậm ngùi buông lơi việc chính thức gõ búa chốt hạ minh ước. Thế nhưng, gã vẫn gặt hái thái độ đồng thuận êm thấm từ miệng Đại Đường, triều đình ân tứ cho gã vô vàn lá trà làm trọng thưởng, lại còn phái một binh đoàn tăng lữ ồ ạt đổ bộ vào đất Thổ Phồn cứu nhân độ thế, truyền bá giáo lý Phật pháp.
Tuệ Chứng thiền sư cũng dắt díu chúng đồ đệ theo hầu, thu xếp hành trang thẳng tiến Thổ Phồn.
Lúc sắp sửa khởi hành, Tuệ Chứng thiền sư ngoảnh đầu lặng ngắm Trường An thành sừng sững uy nghi, hướng về phía Vương Duy – người đích thân ra đưa tiễn ông ta – thốt ra một đoạn hàn huyên ý vị thâm trường.
"Tâm tư Điện hạ ấp ủ, bần tăng đều tường tận. Nếu Phật môn để tâm chốn dân gian khổ ải, khuyên người hướng thiện, tất vầng Phật quang sẽ phổ chiếu ngàn phương. Còn như chúng tăng lữ nỡ lòng quên bẵng lời Phật tổ giáo huấn, mải miết lao theo dục vọng chốn hồng trần, ắt tự chuốc lấy vực thẳm bủa vây mà thôi."
.
Bình luận truyện